NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ KHÓA I về phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với ứng dụng công nghệ cao tương xứng với tiềm năng, thế mạnh xã Kon Braih

Lượt xem:

Đọc bài viết

Thực hiện Văn bản ngày 02/4/2026 của Đảng ủy xã Kon Braih về NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ KHÓA I về phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với ứng dụng công nghệ cao tương xứng với tiềm năng, thế mạnh xã Kon Braih; Chi bộ Trung tâm GDNN-GDTX triển khai, tuyên truyền đến toàn thể toàn thể cán bộ quản lý, đảng viên, giáo viên, nhân viên tại đơn vị, cụ thể như sau:
1. Công tác thông tin, tuyên truyền
Tổ chức tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, vai trò, ý nghĩa của phát triển nông nghiệp gắn với ứng dụng công nghệ cao đến mọi đối tượng, chủ thể, nhất là người dân và tổ chức kinh tế bằng nhiều hình thức thích hợp, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận, hưởng ứng, từng bước tạo lập, xây dựng, phát triển nôngnghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn xã Kon Braih đáp ứng trong tình hình mới.
2. Công tác quy hoạch, kế hoạch; tổ chức sản xuất
– Tổ chức rà soát, đánh giá và đưa vào trong các quy hoạch, kế hoạch các khu vực có tiềm năng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, bao gồm các khu vực được xác định chuyển đổi cơ cấu cây trồng do kém hiệu quả, làm cơ sở hình thành các vùng sản xuất tập trung về cây ăn quả (sầu riêng, bơ, chanh dây), cây dược liệu (đương quy, đinh lăng, mật nhân), rau màu, mía, chăn nuôi (heo bản địa, bò lai, gia cầm ứng dụng quy trình khép kín, an toàn sinh học), lâm nghiệp (trồng rừng sản xuất, rừng dược liệu). Rà soát, đẩy mạnh dồn đổi, tích tụ đất đai, hình thành “cánh đồng lớn” tại những nơi đủ điều kiện. Quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp quyền sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nhất là cho doanh nghiệp và hợp tác xã.
– Tổ chức, cơ cấu sản xuất theo hướng chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang sản xuất tập trung, vùng chuyên canh hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng cao. Liên kết chặt chẽ “6 nhà”, gồm: Nhà nước, Nông dân; Nhà khoa học, Doanh nghiệp, Ngân hàng, Nhà phân phối; tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp chủ lực phục vụ công nghiệp chế biến, tiêu dùng trong và ngoài địa phương.
Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, quy trình sản xuất tiên tiến, áp dụng các quy chuẩn sản xuất an toàn
dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh. Nhân rộng mô hình lúa ST24; xây dựng, củng cố, phát triển thương hiệu gạo Tân Lập. Hình thành và phát triển các mô hình liên kết, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
– Thúc đẩy hình thành kinh tế nông thôn theo hướng tích hợp đa giá trị; chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang kinh tế nông nghiệp, tích hợp giá trị văn hóa, xã hội, môi trường, du lịch vào sản phẩm. Chuyển đổi sang các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, thân thiện môi trường và tạo việc làm bền vững.
3. Huy động nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, thông tin; thu hút đầu tư
– Huy động tối đa các nguồn lực, nhất là vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030, vốn các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 nhằm đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các khu vực sản xuất theo quy hoạch (đường giao thông, hệ thống thủy lợi, kênh mương nội đồng, hồ chứa, đập dâng, điện sản xuất, kho bãi, sân phơi và hạ tầng nông nghiệp, nông thôn khác), đáp ứng yêu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa, liên kết vùng, các tiêu chí vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
– Thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thu hút nhà đầu tư khu vực kinh tế tư nhân đầu tư vào các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao gồm rà soát hoàn thiện danh mục các dự án thu hút đầu tư, cải cách thủ tục
hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh, đa dạng hóa hình thức thu hút.

4. Củng cố, phát triển hợp tác xã, khu vực kinh tế tư nhân
– Củng cố, phát triển mạnh hợp tác xã hiện có(15) theo hướng khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; hỗ trợ nâng cao năng lực các mô hình quản trị hiện đại và đẩy mạnh tự động hóa, ứng dụng công nghệ cao, áp dụng công nghệ
thông tin, chuyển đổi số trong quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc, bán hàng qua sàn thương mại điện tử; tổ chức hợp tác, liên kết với doanh nghiệp lớn trong phát triển các chuỗi giá trị sản phẩm, ngành hàng. Khuyến khích, hỗ trợ thành lập các hợp tác xã chuyên ngành (như trồng trọt, chăn nuôi, dược liệu, chế biến) gắn với vùng sản xuất công nghệ cao; hỗ trợ hợp tác xã xây dựng mô hình khép kín, theo chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững từ sản xuất đến sơ chế, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn.
– Phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý hợp tác xã về quản trị, kế toán, pháp lý, tiếp cận thị trường, xây dựng phương án sản xuất – kinh doanh hiệu quả. Hỗ trợ trao đổi kinh nghiệm với các hợp tác xã tiêu biểu trong và ngoài tỉnh; nhận diện thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP.
5. Thúc đẩy chuyển đổi số và thương mại điện tử trong nông nghiệp
– Phát triển mạnh kinh tế nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn. Thực hiện số hóa dữ liệu về đất đai, khí hậu, vùng sản xuất, cây trồng, vật nuôi chủ lực, mùa vụ, sản lượng, đơn vị sản xuất (hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp). Xây dựng bản đồ số vùng trồng, vùng nguyên liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc và cấp mã vùng trồng.
– Hỗ trợ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp áp dụng phần mềm quản lý sản xuất, nhật ký điện tử, hệ thống cảm biến, tự động hóa trong tưới tiêu, dinh dưỡng, theo dõi sâu bệnh. Phát triển các mô hình nông nghiệp thông minh quy mô nhỏ như nhà màng, nhà lưới sử dụng camera giám sát.